UNG THƯ CỔ TỬ CUNG DO NHIỄM VIRUS

Posted by Hoa Nguyen on Thứ Bảy, ngày 11 tháng 1 năm 2014 | 0 nhận xét


Trái ngược với viêm do vi khuẩn, viêm do virus thường tấn công thượng mô lát tầng cổ tử cung.
Nhiễm virus Herpes: Ít hay không có triệu chứng lâm sàng nên xuất độ bệnh ở cổ tử cung khó xác định rõ ràng, từ 9-22% bệnh nhân đi khám phụ khoa nhiễm bệnh.




Tác nhân gây bệnh là HSV típ 2 và đôi khi HSV típ 1.

HSV1 chủ yếu gặp ở vùng miệng hầu (Herpes buccalis).

Nhiễm HSV2 thường qua giao hợp ở phụ nữ trẻ. 3-7 ngày sau khi bị nhiễm, bệnh nhân có các triệu chứng, vì thường ở âm hộ, âm đạo vùng hội âm và cổ tử cung có những ổ loét nông, rất đau. Nếu có loét ở âm hộ, bệnh nhân đau nhức âm hộ, đi tiểu đau, có nhiều huyết trắng như nước.

Bệnh ở cổ tử cung có thể được chẩn đoán bằng cấy virus, huyết thanh trung hòa kháng thể và các phết tế bào âm đạo, cổ tử cung. Trên phết tế bào, có nhiều tế bào lớn, nhiều nhân, với các thể vùi virus trong nhân.

Nếu sinh thiết một bọc nước, ta thấy bọc nước ở trên lớp đáy thượng mô, trong có các tế bào thượng mô thoái hoá, đại bào nhiều nhân với thể vùi trong nhân màu đỏ eosin.

Chẩn đoán bằng tế bào học hay bằng phân lập virus hữu hiệu nhất trong vòng 2-3 ngày sau khi có triệu chứng lâm sàng.

Nhiễm Herpes virus có 2 di chứng, một là gây sẩy thai tự nhiên, tử vong và bệnh tật ở thai nhi. Hai là có vai trò trong bệnh sinh của carcinom cổ tử cung. Virus HSV 2 có thể có vai trò cộng hưởng với HPV trong bệnh sinh của carcinom cổ tử cung.

Viêm do virus HPV: Đóng vai trò quan trọng trong hình thành tân sinh trong thượng mô cổ tử cung (CIN).

90% condylom cổ tử cung do HPV là condylom phẳng. U giới hạn rõ, hơi cao hơn thượng mô xung quanh, có màu trắng sau khi được chấm acid acêtic 5%. Condylom phẳng thường gặp ở nhiều nơi, trên lớp thượng mô lát tầng cổ ngoài hay trên vùng biến đổi, với thượng mô gai chuyển sản.

U có thể kèm với condylom ở âm đạo, âm hộ. Nếu có condylom âm hộ, hơn 70% có kèm condylom âm đạo hay condylom cổ tử cung.

Condylom sùi thường gặp hơn ở thượng mô hội âm và âm hộ. U thường gặp ở phụ nữ trẻ và lây lan qua đường sinh dục. Khi mang thai, u thường tăng trưởng và phát triển ở nhiều nơi. U có thể gây bệnh đa u nhú thanh quản ở các bé sơ sinh đẻ ra từ mẹ mang condylom đường sinh dục.

Nhiễm HPV thể hiện qua các thay đổi tế bào đặc thù là tế bào rỗng và các đặc điểm khác như tế bào bề mặt và trung gian to nhỏ không đều, nhân vón, chất nhiễm sắc đậm màu, tế bào 2 nhân, tế bào nghịch sừng.

Tế bào rỗng là những tế bào trung gian hay bề mặt có kích thước lớn, với bờ bào tương không đều, quanh nhân có một vùng lớn, sáng, bờ rõ, bào tương đậm đặc và ở sát màng bào. Tế bào rỗng thường có 2 nhân, nhân vón, tỷ lệ nhân trên bào tương tăng. Tế bào rỗng là hậu quả của virus xâm nhập làm chết tế bào sớm, và thường gặp trong 1/3 trên của thượng mô gai.

Về mô học, dưới độ phóng đại nhỏ, có nhiều nhân to bất thường nằm rải rác trong lớp màng của thượng mô gai. Lớp Malpighi tăng sản và có thể có dạng nhú. Các tế bào gai hoá sừng bất thường và được gọi là tế bào nghịch sừng. Bề mặt lớp thượng mô gai sừng hoá hoặc cận sừng hoá.

60% condylom tự thoái triển, 30% tồn tại và 10% có thể hoá ung thư.

HPV típ 6 và 11 thường gặp trong các condylom lành tính, còn các HPV típ 16, 18, 31, 32, 36 được phát hiện trong CIN và trong carcinom xâm nhập.

Viêm do CMV (cytomegalovirus) thường hiếm gặp.

0 nhận xét for "UNG THƯ CỔ TỬ CUNG DO NHIỄM VIRUS"

Leave a reply